Trang chủ    Tin tức - Sự kiện    Hoạt động Bộ, Ngành liên quan
Tiếp tục đổi mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI trên lĩnh vực BHXH, BHYT (31/01/2012)
          

Bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) là hai chính sách song hành, trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, giúp người dân giảm bớt gánh nặng khi tuổi già, ốm đau, tai nạn, thất nghiệp. Thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT góp phần bảo đảm đời sống cho người lao động, bảo vệ sức khỏe nhân dân, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Chính sách BHXH, BHYT đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ ngay sau khi nước ta giành độc lập, góp phần làm nên những thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội.                                  

 

TGD 300112.jpgDưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, đi cùng với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt trong đó chính sách BHXH, BHYT ngày càng phát huy vai trò trụ cột, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, nước ta thực hiện chính sách đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước. Thực tế này đòi hỏi phải có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH, BHYT nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã quy định tại Điều 39: “…Thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe”; Điều 56: “…Nhà nước quy định thời gian, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động”. Năm 1994, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ Luật Lao động, trong đó có một chương quy định về chính sách BHXH bắt buộc theo nguyên tắc có đóng có hưởng, cân đối thu - chi với 5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Nếu như trước đây BHXH chỉ áp dụng cho cán bộ, công nhân làm việc trong khu vực nhà nước và lực lượng vũ trang, khi thực hiện Bộ Luật Lao động, tất cả những người lao động làm công ăn lương trong các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế đều là đối tượng tham gia BHXH. Quỹ BHXH từ chỗ chủ yếu do ngân sách nhà nước đảm bảo, theo cơ chế mới, đây là quỹ độc lập với ngân sách, tự hạch toán bằng sự đóng góp của chủ sử dụng lao động, người lao động, được Nhà nước bảo trợ…

Cùng với việc đổi mới chính sách, ngày 16/02/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 19/CP thành lập cơ quan BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH thuộc hệ thống Lao động - Thương binh & Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Theo quy định, BHXH là cơ quan thực hiện giải quyết chính sách, thực hiện nhiệm vụ thu - chi và quản lý Quỹ BHXH. Tiếp đó, đến năm 2002, theo tiến trình cải cách bộ máy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định chuyển tổ chức, nhiệm vụ thực hiện chính sách BHYT từ Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam.

Quan tâm đặc biệt tới chính sách BHXH, chỉ sau hơn ba năm thực hiện BHXH theo quy định của Luật Lao động và hướng dẫn của các Nghị định của Chính phủ, ngày 26/5/1997 Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 15-CT/TW về tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH. Tại Đại hội IX của Đảng (4/2001), chủ trương phát triển BHXH, an sinh xã hội đáp ứng xu thế phát triển của thời đại được nhấn mạnh: “Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội. Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp” (Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.651). Đến Đại hội X, chính sách BHXH, BHYT được đề cập song hành trong tổng thể hệ thống an sinh xã hội: “Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân” (Văn kiện Đại hội X, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.102).

Năm 2006, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật BHXH; năm 2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật BHYT. Hai luật này đã quy định chi tiết các chế độ BHXH và BHYT trên các quan điểm lớn của Đảng và kế thừa những quy định phù hợp của pháp luật với nguyên tắc mức hưởng trên cơ sở mức đóng. Quản lý, hạch toán Quỹ BHXH độc lập và chia sẻ giữa những người tham gia BHXH, BHYT với mục tiêu góp phần thực hiện an sinh xã hội, bảo đảm mối tương quan hợp lý giữa các đối tượng tham gia và ở các thời kỳ khác nhau, hài hòa các chính sách kinh tế với chính sách xã hội.

Triển khai thực hiện Luật BHYT, ngày 16/6/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 283/QĐ-TTg lấy ngày 01/7 hàng năm là ngày “Bảo hiểm y tế Việt Nam”. Ngày 7/9/2009, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 38-CT/TW về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta đối với việc tổ chức thực hiện chính sách BHYT; đặc biệt là sự quan tâm đối với các đối tượng người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi được ngân sách nhà nước đảm bảo, các đối tượng khác hoặc thực hiện theo cơ chế bắt buộc, hoặc tham gia có sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm thực hiện BHYT toàn dân vào năm 2014, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ, như Điều 39, Hiến pháp năm 1992 đã quy định.

Kể từ khi BHXH Việt Nam được thành lập, nhất là sau khi Luật BHXH và Luật BHYT được ban hành, có hiệu lực thi hành, tình hình thực hiện các chế độ, chính sách, quy định của pháp luật về BHXH, BHYT đã có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được những thành tựu quan trọng. Các chế độ bảo hiểm được mở rộng và linh hoạt hơn với nhiều loại hình đa dạng từ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, BHYT… phạm vi và đối tượng cũng đã gia tăng đáng kể; cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm cũng có những đổi mới và từng bước hoàn thiện hơn.

Trong những năm qua, BHXH Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền từ Trung ương đến địa phương trong thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT, đặc biệt là Chỉ thị số 15/CT-TW ngày 26/5/1997 của Bộ Chính trị về tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH và Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 7/9/2009 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới, đã tạo rất nhiều thuận lợi để thực hiện chính sách BHXH, BHYT đạt được kết quả. BHXH Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ và Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực; sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ban, ngành, tổ chức đoàn thể có liên quan, các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình và sự cộng tác chặt chẽ của các đơn vị sử dụng lao động, người tham gia BHXH, BHYT trong cả nước.

Năm 1993, năm đầu tiên thực hiện BHYT mới chỉ có 3,79 triệu người tham gia BHYT (chiếm 5,4% dân số). Năm 1996 đối tượng tham gia BHXH là 2,85 triệu người, đến năm 2005 có gần 6,2 triệu người tham gia BHXH, 23,2 triệu người tham gia BHYT; đến năm 2011 gần 10 triệu người tham gia BHXH, (tăng 61% so với năm 2005), 56 triệu người tham gia BHYT, (chiếm 65% dân số và tăng 2,4 lần so với năm 2005). Chính sách BHXH, BHYT ngày càng hoàn thiện, cơ bản phù hợp với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của nhân dân. Đối tượng tham gia BHXH, BHYT được mở rộng đến các đối tượng tự nguyện, tạo nên sự bình đẳng về BHXH, BHYT đối với mọi người.

Cùng với việc tăng nhanh đối tượng tham gia, quỹ BHXH, BHYT cũng tăng nhanh tương ứng. Năm 2005 số thu BHXH đạt 14.491 tỷ đồng, thu BHYT 3.065,3 tỷ đồng; đến năm 2011 thu BHXH 63.590 tỷ đồng (tăng 4,4 lần so với năm 2005), thu BHYT 30.800 tỷ đồng (tăng 10 lần so với năm 2005).
Bên cạnh việc tập trung thực hiện công tác thu, phát triển đối tượng, trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn luôn quan tâm giải quyết tốt chế độ chính sách, tạo thuận lợi tối đa cho người được hưởng, đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính. Số người được giải quyết chế độ BHXH tăng liên tục: năm 2005 giải quyết 3,3 triệu lượt người, năm 2011 giải quyết 6,4 triệu lượt người (tăng1,94 lần so với năm 2005); điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH kịp thời cho hơn 2 triệu người được hưởng khi Nhà nước thay đổi mức lương tối thiểu.

Cùng với việc giải quyết chế độ chính sách BHXH, BHXH Việt Nam chú trọng đến công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH với mục tiêu chi trả đảm bảo kịp thời, đầy đủ, chính xác an toàn đến người thụ hưởng trước ngày 10 hàng tháng bằng tiền mặt, hoặc chi qua tài khoản ATM, riêng những người già yếu được cơ quan BHXH mang tiền đến tận gia đình. Năm 2005 số người hưởng BHXH là 4.853.655 lượt người (hưởng hàng tháng 1,75 triệu người), với số tiền là 18.875 tỷ đồng. Năm 2011 số người hưởng BHXH là 9,4 triệu lượt người, (hưởng hàng tháng 2,5 triệu người), với số tiền là 77.000 tỷ đồng. Số tiền chi từ nguồn ngân sách giảm dần và số tiền chi BHXH từ nguồn quỹ BHXH tăng dần, nếu năm 2005 chi từ nguồn ngân sách chiếm 63% tổng chi thì đến năm 2011 giảm xuống còn 43%. Bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện từ 01/01/2009 đối với đối tượng đang tham gia bảo hiểm bắt buộc có giao kết hợp đồng lao động. Năm 2011, đã có hàng trăm ngàn người tham gia BHXH tự nguyện và gần 8 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Trong những năm qua, đối tượng tham gia BHYT tăng nhanh, số lượt người khám, chữa bệnh cũng tăng tương ứng, quyền lợi hưởng BHYT được mở rộng. Năm 2011, đã có 2.303 cơ sở khám, chữa bệnh tuyến huyện và tương đương trở lên thực hiện hợp đồng khám, chữa bệnh BHYT, trong đó có 54 cơ sở tuyến trung ương, 543 cơ sở tuyến tỉnh, 1.354 cơ sở tuyến huyện, 381 cơ sở khám chữa bệnh ngoài công lập. Để người tham gia BHYT được tiếp cận dịch vụ y tế nhanh chóng và thuận tiện, nhất là đối tượng tại các vùng sâu, vùng xa, cơ quan BHXH phối hợp với ngành Y tế tổ chức khám, chữa bệnh BHYT tại các trạm y tế xã. Năm 2011 có 8.656 trạm y tế xã khám chữa bệnh BHYT đạt gần 80% tổng số trạm y tế xã trên toàn quốc, tăng 20% so với năm 2010.

Việc thực hiện thanh toán chi phí khám chữa bệnh được đảm bảo, năm 2005 toàn Ngành thanh toán cho 43,68 triệu lượt người với số tiền 3.251 tỷ đồng; đến năm 2011 thanh toán cho 110 triệu lượt người (tăng 2,5 lần so với năm 2005) với số tiền 24.000 tỷ đồng (tăng 7,4 lần so với năm 2005). Sau nhiều năm quỹ BHYT mất cân đối, đến năm 2010 và năm 2011 tình trạng mất cân đối thu chi BHYT cơ bản được khắc phục, đây là tiền đề quan trọng để đảm bảo thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân vào năm 2014.

Thông qua chế độ BHYT hàng chục triệu người được trợ giúp, vượt qua khó khăn khi ốm đau, bệnh tật để ổn định cuộc sống; chính sách BHYT góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Quỹ BHYT đã cung cấp nguồn tài chính đáng kể cho hoạt động khám, chữa bệnh, đóng góp tích cực vào thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng phục vụ khám chữa bệnh, tăng cường và phát triển hệ thống y tế đặc biệt là y tế cơ sở; thực hiện công bằng trong chăm sóc y tế.

Phải khẳng định rằng, nhờ có chính sách BHXH, BHYT cuộc sống của người lao động được ổn định, khi gặp rủi ro ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp… được trợ giúp chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ và hỗ trợ để sớm có việc làm… Thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT nhất là chế độ hưu trí góp phần ổn định cuộc sống của người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động. BHXH, BHYT là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền vững. BHXH giữ vai trò trụ cột, bền vững nhất trong hệ thống an sinh xã hội. BHXH phát triển mạnh, là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT còn có một số hạn chế cần khắc phục, đó là: việc phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT mặc dù đã có bước chuyển biến, song chưa đáp ứng yêu cầu, tình trạng chậm đóng, nợ đọng, tham gia không đầy đủ, hoặc không tham gia BHXH, BHYT cho số đối tượng bắt buộc xảy ra ở hầu hết các địa phương. Số liệu thống kê trong 5 năm gần đây cho thấy những số liệu đáng quan tâm: Năm 2005 số tiền nợ BHXH là 1.064 tỷ đồng bằng 6,9% số phải thu; năm 2008 là 2.286,3 tỷ đồng, bằng 6,5% số phải thu; và năm 2010 số tiền nợ là 1.723 tỷ đồng, bằng 3,4% số phải thu; vẫn còn một số đơn vị chưa tham gia hoặc tham gia BHXH không đầy đủ cho người lao động, nhất là khu vực tư nhân tham gia BHXH không đầy đủ đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Nguyên nhân chủ yếu là do chế tài xử phạt hành vi vi phạm pháp luật về BHXH chưa đủ mạnh, cơ quan BHXH chưa được giao chức năng thanh tra và xử phạt các đơn vị vi phạm; nhận thức của chủ sử dụng lao động chưa đầy đủ, một bộ phận người lao động còn thiếu hiểu biết về chính sách BHXH...
Qua 5 năm thực hiện Luật BHXH cũng đã bộc lộ những hạn chế cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tiễn. Một số nội dung mới nảy sinh trong thực tiễn cần được giải quyết nhưng chưa được Luật điều chỉnh; có sự mâu thuẫn giữa các điều trong Luật, nhất là quy định về tổ chức BHXH (Điều 106) và chi phí quản lý BHXH (Điều 95, 101, 104) không thống nhất, không phù hợp với tính chất và nhiệm vụ đặc thù của Ngành BHXH.

Qua 2 năm thực hiện Luật BHYT cũng đã bộc lộ những bất cập: Luật BHYT quy định nhiều nhóm đối tượng mới (tăng từ 14 lên 34 nhóm) và do nhiều cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện. Quy định về xã hội hoá, tự chủ tài chính chưa đầy đủ dẫn đến tình trạng cơ sở khám, chữa bệnh tự đặt giá dịch vụ y tế và thu thêm tiền của người bệnh BHYT. Quy định về đấu thầu, thanh toán thuốc BHYT còn nhiều bất cập như: cơ quan BHXH được giao quản lý quỹ BHYT để thanh toán thuốc chữa bệnh nhưng không có trong Hội đồng đấu thầu thuốc, do đó giá thuốc thanh toán thường cao hơn giá thị trường.

Tình trạng lạm dụng BHYT vẫn xảy ra ở một số nơi nhất là các cơ sở được đầu tư, trang bị các máy móc từ nguồn xã hội hóa. Thầy thuốc chỉ định các dịch vụ kỹ thuật chưa cần thiết hoặc không phù hợp với chẩn đoán. Công tác phát triển BHYT đến người cận nghèo có nhiều khó khăn mà chủ yếu do đối tượng không có khả năng mua BHYT mặc dù được Nhà nước hỗ trợ 50% mức đóng, có địa phương hỗ trợ đến 80% phí BHYT, có địa phương ứng trước kinh phí để mua thẻ BHYT nhưng chỉ những người khi đã mắc bệnh cần khám, chữa bệnh mới tham gia BHYT...

Mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đất nước trong giai đoạn mới được Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Nghị quyết Đại hội XI cũng chỉ rõ định hướng tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp BHXH, BHYT: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp…Tăng tỷ lệ người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm. Đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ bảo hiểm xã hội...Thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ chế độ quy định đối với mọi đối tượng...”; “…Bảo đảm cho người có bảo hiểm y tế được khám chữa bệnh thuận lợi".

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng trên lĩnh vực BHXH, BHYT, cần đổi mới mạnh mẽ hơn và tiến hành đồng bộ các giải pháp, đó là:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT. Vừa qua, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì tiến hành khảo sát, tổng kết, đánh giá kết quả 15 năm tổ chức thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW và đang tham mưu cho Ban Bí thư trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về công tác BHXH, BHYT. Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác BHXH, BHYT được ban hành sẽ tạo sức mạnh tổng hợp, huy động cả hệ thống chính trị lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng trong tình hình mới.

Thứ hai, đổi mới hoạt động thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò, ý nghĩa của BHXH, BHYT trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, từ đó tự giác chấp hành pháp luật BHXH, BHYT. Theo đó, cần đa dạng hóa các hình thức, các kênh truyền thông, đẩy mạnh tuyên truyền đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của đối tượng tham gia; phát hiện những bất cập, hạn chế của chính sách, pháp luật phản ánh kịp thời để khắc phục và điều chỉnh; động viên, khích lệ các đơn vị, cá nhân thực hiện tốt; phê phán những hành vi vi pháp luật BHXH, BHYT.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về BHXH, BHYT, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẽ đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện tốt mục tiêu BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân. Cần xem xét sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện những quy định về BHYT tại Điều 39 và quy định về BHXH tại Điều 56 của Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển trong thực tiễn hiện nay và giai đoạn tới. Sau tổng kết, đánh giá 5 năm thực hiện Luật BHXH, 2 năm thực hiện Luật BHYT, BHXH Việt Nam cùng các bộ, ngành liên quan tổng hợp kết quả đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung phù hợp với tình hình thực tiễn; đồng thời xây dựng các văn bản hướng dẫn chặt chẽ, đúng quy định và thẩm quyền đưa chính sách, pháp luật BHXH, BHYT thực sự đi vào cuộc sống.

Thứ tư, BHXH Việt Nam chỉ đạo toàn Ngành đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và thực hiện nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận giải quyết hồ sơ tại bộ phận một cửa. Trên cơ sở Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 9/12/2010 của Chính phủ về việc đơn giản hoá thủ tục thuộc thẩm quyền của BHXH Việt Nam, rà soát lại toàn bộ hệ thống văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Ngành để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định, thủ tục không còn phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người tham gia, thụ hưởng được hưởng đầy đủ, trọn vẹn chế độ, chính sách BHXH, BHYT đã được Nhà nước ban hành.

Thứ năm, tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức BHXH Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong thực thi nhiệm vụ; nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Chính phủ và nhân dân.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT. Các cơ quan thanh tra chuyên trách của các bộ, ngành có chức năng quản lý nhà nước về BHXH, BHYT phối hợp với BHXH Việt Nam thường xuyên tổ chức thanh tra kiểm tra việc thực hiện pháp luật BHXH, BHYT tại các đơn vị sử dụng lao động, các cơ sở khám chữa bệnh, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm; Toà án nhân dân các cấp xử lý dứt điểm các đơn vị có hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT.

Là trụ cột của hệ thống An sinh xã hội, BHXH Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và vận hội mới, song cũng có nhiều khó khăn, thách thức mới. Trước yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao trong thời gian tới, BHXH Việt Nam mong rằng luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ và giúp đỡ nhiều hơn của các cấp, các ngành, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, cùng với sự đổi mới toàn diện, sự cố gắng nỗ lực không ngừng của cán bộ, công chức, viên chức toàn Ngành BHXH, chắc chắn sự nghiệp BHXH, BHYT sẽ có bước phát triển mới, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.
Lê Bạch Hồng                         
Bí thư Ban cán sự Đảng,          
Thứ trưởng, Tổng giám đốc BHXH Việt Nam

 

www.baohiemxahoi.gov.vn
2814 lượt xem
Tin cùng chuyên mục :
Tin mới đưa :

Tài khoản - Đăng nhập

Liên kết

Thăm dò ý kiến

Bạn truy cập vào website BHXH với mục đích gì?



Ảnh hoạt động

Thống kê truy cập

Người đã truy cập : 2,141,466  lần xem
Ai đang truy cập : 480
TRANG THÔNG TIN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH YÊN BÁI
Địa chỉ : Tổ 39 - Phường Đồng Tâm, TP Yên Bái, Tỉnh Yên Bái
Bản quyền thuộc bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái